Đồ án Trung tâm Hành hương Đức Mẹ La Vang - Việt Nam




Vị trí địa lý
Trung tâm Hành hương Đức Mẹ La Vang tọa lạc tại tỉnh Quảng Trị, thuộc vùng bắc trung bộ Việt Nam. Phía bắc giáp tỉnh Quảng Bình, nơi có những dòng sông trong lành xuất phát từ những con suối dọc dãy Trường Sơn, xuyên qua các hang động đá vôi kỳ vĩ, xuôi về đồng bằng nhỏ hẹp hòa mình vào biển đông.
Phía nam giáp tỉnh Thừa Thiên Huế, cố đô triều đình Nhà Nguyễn, nổi tiếng với các công trình kiến trúc lăng tẩm, thế đất sông núi hữu tình. Phía tây giáp nước Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào, ngăn cách bởi dãy núi hùng vĩ hiểm trở với rừng rậm mang tên Trường Sơn. Phía đông giáp biển Thái Bình.
Quảng Trị nằm trong chuỗi di sản văn hóa miền trung Việt Nam, Hội An - Đà Nẵng - Huế - Quảng Bình. Là hành lang của lục địa nhìn ra biển Đông.
Bảo tồn di tích
– Linh đài: nơi đây hơn 200 năm trước, năm 1798, Đức Mẹ đã hiện ra để cứu giúp người dân cùng khổ, lòng từ ái của Mẹ tồn tại đến muôn đời, trải qua bao thế hệ, Mẹ vẫn dang rộng cánh tay đón chờ mọi người chạy đến cùng Mẹ trong những cơn gian nan khốn khó.
LaVang_01
– Giếng Đức Mẹ: từ lòng giếng này đã tuôn chảy ra nguồn nước tươi mát, bao nhiêu năm qua người ta đã đến kín múc nơi giếng như kín múc nơi lòng Mẹ những ân thiêng để thỏa lòng khát khao. Hình ảnh cái giếng nước gợi nhớ nếp sống cộng đồng của thôn làng Việt, mọi người cùng đến nơi đây để gặp gỡ, thông tin, chia sẻ, và nhất là cùng nhau đón nhận sức sống qua làn nước giếng làng.
LaVang_02
– Ngôi tháp cổ: còn giữ lại như một chứng tích của lòng kiên cường, trải qua bao thăng trầm lịch sử, bao tàn phá của thời gian và chiến tranh, lòng tin vẫn bền vững, vẫn vươn lên cho dù còn mang những dấu vết đổ vỡ như chính Chúa Kitô đã phục sinh mà thương tích vẫn in dấu trên mình.
LaVang_03
LaVang_04
Quan điểm thiết kế
La Vang nằm trong vùng rừng núi hoang dã khi xưa, nay là vùng nông thôn miền đồi núi. Ý tưởng kiến trúc chủ đạo: công trình phù hợp với văn hóa Việt Nam, cụ thể miền trung Việt, hòa quyện trong thiên nhiên, gần gũi ấm áp thân thiện, tôn vinh những giá trị nhân ái và xây dựng một không gian cộng đồng. Đó là những đặc tính của hồn Việt.
Toàn bộ công trình kiến trúc Trung tâm Hành hương được thiết kế theo phong cách kiến trúc Việt Nam, thích ứng với khí hậu miền Trung, lấy vương cung Thánh Đường Đức Mẹ làm trọng tâm, phục vụ cho các cuộc hành hương kính viếng quanh năm và các Đại hội Thánh Mẫu mang tầm vóc toàn quốc hoặc quốc tế. Mặt bằng toàn thể tọa lạc trên khu đất diện tích 190.106 m2, phân chia thành 3 vùng chức năng mang tính tiệm tiến của cuộc hành hương:
1. Vùng tiếp khách hành hương: diện tích 47.500 m2, gồm cổng tiếp đón, một lối chính giữa đi vào rộng 32m, bên phải là ngôi nhà trưng bày các chứng tích phép lạ và các tặng vật của khách dâng cúng, bên trái là nhà hòa giải gồm nhà nguyện 200 chỗ và 30 tòa giải tội, cả hai công trình được đặt trên hai đảo giữa hai hồ nước thiên nhiên. Hình thái kiến trúc phỏng sinh học diễn tả năm chiếc bánh và hai con cá.
2. Vùng trung gian: gồm công trường Mân Côi rộng 48m, bên phải là nhà điều hành trung tâm với nhà nguyện 300 chỗ cho cộng đoàn địa phương (Giáo xứ La Vang), bên trái tái tạo khu rừng dẫn đến nơi Đức Mẹ hiện ra (Linh đài). Cổng tam quan mang biểu tượng hoa hồng dẫn vào 20 mầu nhiệm Mân Côi diễn tả bằng 20 công trình điêu khắc. Diện tích vùng 40.000 m2.
3. Vùng tâm linh: công trường Lòng Chúa Thương Xót và Vương cung thánh đường 5.000 chỗ đặt ở vị trí cuối Trung tâm, ngay trục chính toàn bộ công trình, bên dưới là một hội trường 5.000 chỗ và hầm đậu xe nội bộ. Ngay cổng vào không gian tâm linh bên trái là Linh đài kỷ niệm nơi Đức Mẹ hiện ra, kéo dài từ ngoài vào trong là một khu rừng cây tái tạo không gian xưa cũ núi rừng, ẩn hiện trong rừng cây là những chiếc lều dành cho khách hành hương qua đêm bên Linh đài Đức Mẹ. Đối diện Linh đài là tượng đài các Thánh Tử Vì Đạo tại Việt Nam. Tháp chuông của Vương cung thánh đường cũ được bảo tồn như một di tích, một nhà nguyện Thánh Thể 300 chỗ được đặt dưới lòng đất bên dưới khuôn viên Vương cung thánh đường cũ.
LaVang_04
LaVang_06
LaVang_07

Vương cung thánh đường
LaVang_08
Công trình Vương cung thánh đường được xây dựng trên một mặt bằng có diện tích 13.464 m2. Chiều dài công trình 132m theo hướng bắc nam, ngang 102m theo hướng đông tây.
Thỏa sức chứa 5.000 chỗ (3.500 chỗ tầng trệt và 1.500 chỗ tầng lửng, sức chứa có thể tăng thêm do sử dụng hành lang chung quanh hoặc lễ đài mặt tiền) để phục vụ các cuộc hành hương đông đảo người dự, những hội nghị quốc tế, những cuộc tiếp đón các vị mục tử quan trọng đến thăm viếng Giáo Hội Công Giáo Việt Nam và những đại lễ của Giáo Hội.
Công trình Vương cung thánh đường là điểm nhấn của tổng công trình Trung tâm Hành hương Đức Mẹ La Vang, thể hiện phong cách kiến trúc Việt, mang hồn Việt qua hình dáng những tấm mái ngói thân quen, kiểu dáng ngôi nhà ở, ngôi đình Việt, những họa tiết diễn tả cụ thể những ân huệ của Thiên Chúa trên chính những sản phẩm của quê hương đất nước (hoa và lá cây lá vằng, lúa gạo, chùm nho, hoa hồng, chim lạc, ánh lửa...), những lối đi dành cho người già hoặc bệnh tật (tính nhân ái), cấu trúc đồng tâm (tính cộng đồng), những mảng xanh, giếng nước rửa tội trong nội thất, những vật liệu từ thiên nhiên của các vùng miền trong cả nước (tính thiên nhiên), tận dụng nước mưa trong mùa mưa để sử dụng trong mùa nóng, sử dụng năng lượng mặt trời (thân thiện môi trường)...
LaVang_09
LaVang_10
LaVang_11
LaVang_12

VƯƠNG CUNG THÁNH ĐƯỜNG
Gồm ba khối chính:
1/ Lễ đài (tiền sảnh):
Được xây dựng để tổ chức các lễ ngoài trời, hướng nhìn ra công trường Lòng Chúa Thương Xót có khả năng tiếp đón khoảng 500.000 khách hành hương, lễ đài trên 1.500 chỗ đồng tế, 50 chỗ đặc biệt tại chính điện. Phần trước lễ đài là một cầu thang lớn kết hợp các chiếu nghỉ làm nơi diễn nguyện trong các kỳ lễ hội.
Lễ đài được thiết kế mở như diễn tả Hội Thánh được sai đến với muôn dân, chủ đề Chúa Thánh Thần là chủ đề chủ đạo cho thiết kế.
2/ Vương cung thánh đường (khối chính):
Một giếng rửa tội đường kính 5 mét được đặt ngay tiền sảnh lối giữa từ lễ đài vào khối Vương cung thánh đường theo truyền thống Giáo Hội Công giáo. Nước được đưa vào nội thất để làm mát vi khí hậu (microclimate).
Nội thất Vương cung thánh đường phản ánh hồn Việt, vuông vức và đồng tâm để diễn tả tính cộng đồng.
Chủ đề của khối chính Vương cung thánh đường là biến cố chết-phục sinh của Chúa Kitô trong đó Mầu Nhiệm Ba Ngôi được mặc khải.
Phòng Thánh (khối phụ trợ):
Khối phụ trợ giúp cho các sinh hoạt thờ phượng của khối chính và lễ đài được diễn tiến tốt đẹp, khối này cũng là nơi lưu giữ các vật dụng thánh dùng vào việc cử hành bí tích hoặc thờ phụng. Khối này gắn chặt với khối chính bằng cung thánh.
Chủ đề của khối này là "người Mẹ", phong cách kín đáo, nhẹ nhàng, tinh tế và hiệu quả. Lưng quay ra hướng bắc chống đỡ giá rét mùa đông.
LaVang_13
Phần dưới Vương cung thánh đường là một hội trường 5.000 chỗ, một bãi đậu xe nội bộ 1.000 m2 (50 xe 4 bánh du lịch), một hầm chứa và xử lý nước mưa (25.000 m3) để dùng vào mùa khô hạn.
Hội trường 5.000 chỗ sử dụng cho các cuộc hội họp gặp gỡ quy mô lớn, đồng thời có thể sử dụng để tăng sức chứa của Vương cung thánh đường trong các cuộc lễ mà số người tham dự trên 5.000, dùng hệ thống truyền hình nội bộ trực tiếp, rất cần thiết trong hoàn cảnh mưa bão.
Bãi đậu xe ngầm dưới công trường Lòng Chúa Thương Xót diện tích 1.000 m2, sức chứa 50 xe du lịch 4 bánh, loại 4-9 chỗ ngồi, dành cho các khách quan trọng. Có thang bộ và thang máy trực tiếp lên lễ đài, có lưu ý đến hệ thống thoát hiểm khi có biến động.
Toàn bộ giao thông từ Vương cung thánh đường có quan tâm đến thoát hiểm và đường thoát khẩn cấp cho các nhân vật quan trọng (VIP).
Hầm chứa và xử lý nước mưa (25.000 m3), vì là vùng khô hạn nên tận dụng nước mưa, xử lý để sử dụng là điều cần thiết, gìn giữ môi trường và tiết kiệm chi phí điều hành.
LaVang_14
LaVang_15
LaVang_16
LaVang_17
LaVang_18
LaVang_19
LaVang_20_copy
LaVang_21_copy

Nhà thờ Giáo xứ Khoái Đồng - Giáo phận Bùi Chu - Thành phố Nam Định


Bạn đã bao giờ đến thăm Nhà thờ Khoái Đồng chưa?

Nếu chưa, thì khi nào bạn tới thành phố Nam Định, hãy một lần tới thăm ngôi Thánh đường này!
Bởi đây là một công trình kiến trúc mang nhiều dấu ấn lịch sử của Giáo hội Công giáo Việt Nam nói chung và của con cái giáo phận Bùi Chu nói riêng.

Có thể nói: nhà thờ Khoái Đồng và lịch sử Giáo xứ Khoái Đồng - Giáo phận Bùi Chu là một dấu tích của Tình Yêu Thiên Chúa đối với Giáo phận Bùi Chu, đồng thời cũng là một Mầu nhiệm về Ngôi Hai xuống thế làm người, chịu chết vì nhân loại và sự Phục Sinh vinh quang của Ngài!


Đọc tài liệu và tham khảo Bách Chu Niên 4 Chân Phước Tử Đạo Tại Hải Dương (1861-1961) mục Trên Sông Vị Hoàng thì biết như sau:
Nhà thờ Khoái Đồng, một ngôi Thánh đường đồ sộ được xây dựng ngay bên bờ hồ lớn Nam Định. Nhà thờ do các cha Dòng Đaminh xây cất nhờ sự tham gia cộng tác đắc lực của giáo dân. Nhà thờ được khởi công xây dựng năm 1934 cùng với Giáo Hoàng Chủng Viện Thánh Alberto Cả và trường Sư phạm Saint Thomas – Nam Định. Vào dịp Lễ Sinh Nhật năm 1941 một Thánh Lễ Misa được cử hành long trọng lần đầu tiên tại đây. Nhà thờ dâng kính Nữ Vương Các Thánh Tử Đạo là vì Thánh đường này được xây dựng trên bờ sông Vị Hoàng, nơi hàng vạn anh hùng ẩn danh đã hy sinh tính mạng vì Đức Tin và vì Giáo Hội Việt Nam. Nhà thờ có diện tích 5.800 m2 do các cha Đaminh người Tây Ban Nha điều hành.
Từ năm 1952-1954, cha G.B. Trần Mục Đích O.P., Dòng Đaminh là người Việt Nam về làm phó xứ. Sau biến cố lịch sử 1954, các linh mục ngoại quốc về nước, cha Đích vào Nam. Từ 1956-1958 nhà thờ Khoái Đồng không có linh mục phụ trách.
Năm 1959, MTTQ Nam Định cử linh mục Đaminh Lâm Quang Học ở xứ Giáo Lạc - Nghĩa Hưng về coi sóc giáo xứ Khoái Đồng cho đến năm 1963 thì qua đời. Trong giai đoạn này, TGM Bùi Chu có thư mời nhờ linh mục Đinh Lưu Nhân thuộc nhà thờ Lớn Nam Định sang giúp mục vụ. Vì hoàn cảnh chiến tranh, nhà thờ Khoái Đồng không có linh mục về phục vụ nữa, giáo dân thì sơ tán, một số tài sản, bàn ghế, đồ lễ bị thất lạc, riêng chuông nhà thờ được đưa gởi tại nhà xứ Tứ Trùng, xã Hải Tân, huyện Hải Hậu, thành phố Nam Định.
Năm 1988, Uy Ban vận động những người công giáo, Tỉnh và Uỷ Ban Mặt Trận Thành Phố đứng ra tổ chức họp và cho xí nghiệp may 1-7 (nay là xí nghiệp may Sông Hồng) làm cơ sở sản xuất.
Hiện nhà thờ đã xuống cấp và hư hỏng nhiều.
Từ năm 1994 đến nay, TGM Bùi Chu và giáo dân xứ Khoái Đồng đã nhiều lần làm đơn gởi UBND Tỉnh, Thành Phố và các Cấp để xin lại nhà thờ Khoái Đồng.
Năm 1998, Đức cố Giám mục Giuse Maria Vũ Duy Nhất cũng gởi đơn đề nghị UBND Tỉnh và các ban ngành xin lại nhà thờ.
Năm 2002 Đức Giám Mục Giuse Hoàng Văn Tiệm cũng gởi đơn lên các cấp chính quyền Tỉnh và thành Phố xin lại nhà thờ để sửa chữa, mục đích cho giáo dân đến dự Lễ.
Mãi đến ngày 17 tháng 09 năm 2009, Tòa Giám Mục nhận được thông báo của UBND tỉnh Nam Định, thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ Tướng Chính Phủ tại công văn số 465/VPCP-NC, ngày 09.05.2008 của văn phòng chính phủ về việc đồng ý giao nhà thờ Khoái Đồng kèm theo quyền sử dụng đất cho giáo Hội Công Giáo (Tòa Giám Mục Bùi Chu) để sử dụng vào mục đích tôn giáo theo chỉ đạo của Thủ Tướng Chính Phủ.
Ngày Hồng Ân đã đến, ngày 07.11.2009, TGM Bùi Chu và toàn thể cộng đoàn giáo hữu Khoái Đồng vui mừng nhận được tin trao trả nhà thờ và một phần đất của Công ty may Sông Hồng quản lý. Và tới hôm nay, phần còn lại, thành phố Nam Định vẫn chưa trao lại cho Tòa Giám Mục.
Vâng, đã hơn 50 năm gián đoạn, hôm nay đoàn chiên nhỏ bé Khoái Đồng quy tụ vui mừng cùng Mẹ Giáo Phận, tạ ơn Chúa, hân hoan vì Khoái Đồng đã hồi sinh và phấn khởi suy tôn Thánh Thể Chúa.

Nhà thờ đã tồn tại xuyên thế kỷ, trầm mặc và duyên dáng soi bóng bên bờ hồ Vị Xuyên êm đềm phẳng lặng. Hình ảnh này từ lâu đã đi sâu vào ký ức của biết bao thế hệ người Nam Định và trở thành một biểu tượng của Thành Nam. Đây có lẽ là nhà thờ có kiến trúc mái vòm sớm nhất tại Việt Nam. Tên gọi chính thức là Nhà thờ thánh Nicholas, là một trong 2 nhà thờ ở Việt Nam thờ thánh Nicholas (cùng với nhà thờ Con Gà - Đà Lạt). Trải qua bao biến cố thăng trầm của lịch sử, hiện nay nhà thờ đã xuống cấp, tuy nhiên nó vẫn giữ được vẻ quyến rũ đến khó quên. Hiện nay, nhà thờ đang được các cha các thầy dòng Đaminh trùng tu. Trong thời gian sắp tới nhà thờ sẽ trở về nguyên trạng kiến trúc ban đầu.

Chúng ta hãy cùng dâng lời Tạ Ơn Chúa và Hãy cùng ngắm nhìn vẻ đẹp duyên dáng và quyến rũ của nhà thờ Khoái Đồng qua một số hình ảnh sau:

























VƯƠNG CUNG THÁNH ĐƯỜNG THÁNH PHÊRÔ

VƯƠNG CUNG THÁNH ĐƯỜNG THÁNH PHÊRÔ

I. LỊCH SỬ ĐỀN THỜ
Đền thờ thánh Phêrô là thành quả công trình tái thiết đầy công phu trên ngôi Đền thờ cổ kính do Hoàng đế Costantino kiến thiết vào năm 320. Để xây Đền thờ mới, người ta mất khoảng 120 năm, tính từ đầu thế kỷ 16, dưới sự điều khiển của 12 vị kiến trúc sư trong đó có nhiều người nổi tiếng như Bramante, Michelangelo, Raffaello và Maderno. Cả Đền thờ cũ cũng như  Đền thờ mới đều được xây trên mộ của thánh Phêrô Tông Đồ, được an táng trên sườn đồi Vatican, trong khu vực nghĩa trang cạnh hý trường của Hoàng đế Nerone. Mái vòm to lớn của Đền thờ thánh Phêrô do Michelangelo vẽ kiểu nhìn xuống thành Roma, trở thành điểm hội tụ lý tưởng nhắc nhớ ngôi mộ đơn sơ của thánh Phêrô, là Đá Tảng trên đó Chúa Kitô đã xây dựng Giáo Hội của Ngài. Hàng cột vòng do kiến trúc sư Bernini thiết kế giống như vòng tay mở rộng, như một dấu hiệu tiếp đón yêu thương, nhấn mạnh ý tưởng Mẹ Giáo Hội, trong Chúa Kitô, trở thành một cộng đoàn các anh chị em, thuộc nhiều dân nước khác nhau.
1. Đền thờ thánh Phêrô thời hoàng đế Costantino
Trong khu vực hý trường của Hoàng đế Nerone, giữa sông Tevere, đồi Gianicolo và Vaticano – nơi Hoàng đế La Mã đã ra lệnh hành hình các tín hữu Kitô,- theo truyền thống, cũng là nơi thánh Phêrô chịu tử đạo, và thi hài Ngài được an táng tại nghĩa trang đó cùng với các vị Tử  Đạo khác. Hý trường này do Hoàng đế Caligola (37-41) khởi xướng và được Nerone (54- 68) hòan tất. Ban đầu hý trường được dùng làm nơi đua xe ngựa, và về sao làm nơi các giao đấu với các dã thú. Đức Anacleto, vị Giáo Hoàng thứ 3 của Giáo Hội, từ năm 77 đến 88, đã thiết lập một Nhà Nguyện nhỏ dâng kính thánh Phêrô. Sau này Hoàng đế Costantino cho thiết lập tại nơi đó ngôi Thánh Đường vĩ đại gồm 5 gian và tồn tại cho đến cuối thế kỷ 15.
Các văn sĩ thời đó kể lại: năm 324, Hoàng đế Costantino ngự xuống khu vực Vaticano với quân gia hùng hậu, và phủ phục trước mộ thánh Phêrô, cởi bỏ Hoàng bào, cầm chiếc xẻng lớn và chính ngài bắt đầu đào, xác định khu vực xây đại Vương Cung Thánh Đường mới. Hoàng đế cũng đổ đầy và vác trên vai 12 giỏ đất như một cử chỉ tôn kính 12 Tông Đồ. Con của Ngài là Hoàng đế Costante đã được vinh dự hoàn tất công trình to lớn xây cất Đền thờ vào năm 349, sau 25 năm kiến thiết. Các bức họa và hình khắc chạm trổ cổ kính cho thấy công trình xây cất do Hoàng đế Costantino xây cất không khác lắm với các Vương Cung Thánh Đường Kitô khác ở Roma, xét về cơ cấu kiến trúc. Nhưng qua các thế kỷ, thánh đường này càng trở nên phong phú nhờ sự quan tâm đặc biệt của các vị Giáo Hoàng cũng như các ông vua Italia và nước ngoài.
Sự biến cải đền thờ thánh Phêrô diễn ra qua nhiều giai đoạn khác nhau. Trong 12 thế kỷ, đền thờ này được trang điểm phong phú hơn với những bức tường được gắn cẩm thạch, các bàn thờ được tô điểm hơn, và các hậu cung nhà thờ đươc trang trí bằng những bức tranh khảm. Đá cẩm thạch quý giá được gỡ từ các đền đài dinh thự ngoại giáo hoặc đưa từ Đông Phương về, các gỗ hương được cắt từ rừng xứ Liban, kim loại bóng loáng, những cánh cửa đồng từ vùng Byzantine với vải vóc do các thương gia miền Venezia nhập khẩu, các men từ các công xưởng miền Limoge, kính từ vùng Renana, các bức thảm từ Thổ Nhĩ Kỳ, Arập Sicilia, vải vóc của Ý, Anh, Tây Ban Nha, các đèn và bình hương bằng vàng bạc, tất cả được dùng để trang trí cho Đền Thờ, Nhà Nguyện, Bàn thờ, nhà dành cho Linh mục và các tượng đài khác.
Các Hoàng đế và vua chúa đến đền thờ thánh Phêrô để được các ĐGH phong vương: Carlo đại đế là vị đầu tiên được ĐGH Leo 3 (795- 816) đội triều thiên tấn phong vào dịp lễ Giáng Sinh năm 800. Sau khi chào Hoàng đế với danh hiệu “Carlo Augusto Đại Đế Thái Bình của dân Roma”, ĐGH dùng dầu thánh sức cho hoàng đế và trao gươm cho ông giữa tiếng reo vui mừng của người Pháp và Ý. Sau vị đại đế này, những người kế vị ông là Lotario và LudovioII, và bao nhiêu vị khác cho đến Federico III đều được phong vương trước mộ Thánh Phêrô Tông Đồ. Cũng như hòn đá ở Campidoglio ( nay là Tòa Đô Sảnh Roma), giữ  gìn tinh hoa sống động nhất của tinh thần Roma trong thời Trung Cổ và Phục Hưng, tảng đá phủ thi hài thánh Phêrô được coi là nơi cực thánh của thế giới Kitô Giáo, được bao nhiêu tín hữu sùng mộ, hầu như hơn cả thánh mộ ở Giêrusalem.
2. Xây đền thờ thánh Phêrô mới

rom
roma
Vaticano chỉ là nơi các vị Giáo Hoàng cư ngụ từ năm 1377 và trước khi Giáo triều được chuyển sang Avignon (1309- 1377) miền nam nước Pháp, dinh của các vị Giáo Hoàng tọa lạc tại Laterano. Trong 73 năm Đức Giáo Hoàng ở Avignon, đền thờ thánh Phêrô bị bỏ hoang đến độ hầu như không thể trùng tu được. Thực vậy sau một ngàn năm huy hoàng, Đền thờ thánh Phêrô do Hòang đế Costantino xây cất bắt đầu có những dấu hiệu tàn lụi, nhất là nơi các bức tường, đặc biệt là những tường phía nam. Những tường này được xây trên những gạch vụn của hý trường và các dinh thự  cổ kính khác. Vì thế các vị Giáo Hoàng đã nghĩ ra ý tưởng xây lại hoàn toàn một Đền Thờ mới. Nói đúng ra, không phải vì nhu cầu cần phòng ngừa Đền Thờ cũ sụp đổ, nhưng vì tinh thần thời đó không nhận ra nơi thánh đường cũ kỹ ấy sự huy hoàng vĩ đại như  thời Phục Hưng đòi hỏi. ĐGH Nicolo 5 (1447- 1455) là người đầu tiên đã đi tới quyết định tiến hành xây Đền thờ thánh Phêrô mới, và ủy thác cho kiến trúc sư Bernardo Rossellino nhiệm vụ xúc tiến. Theo dự  án của nhà kiến trúc này, đền thờ này có một cổng phía trước và có hình thánh giá Latinh, với một mái vòm ở giữa và khu hậu cung có hình bán nguyệt.
Sau khi phá hủy một số phần của đền thờ, người ta bắt đầu xây hậu cung của đền thờ mới. Nhưng ĐGH Nicolo qua đời vào tháng 3 năm 1445, nên công trình xây cất bị ngưng lại. Các vị kế nghiệp dường như từ bỏ ý tưởng xây Đền Thờ mới, và chỉ nghĩ tới việc trang trí và phong phú hóa đền thờ cũ. Mãi cho đến thời ĐGH Giulio II della Rovera (1503- 1513) mới tiếp trục công trình bị bỏ dở dang, và Michelangelo đã trình bày đồ họa cho ngài. Khi ĐGH hỏi phí tổn sẽ là bao nhiêu, Michelangelo trả lời là 100 ngàn đồng vàng. Đức Giulio II đáp: “Hãy làm với 200 ngàn đồng”, và Ngài sai hai kiến trúc sư san Gallo và Donato Bramante đi xem địa điểm, và ngài muốn xây lại Đền Thờ hoàn toàn mới.
Khi Bramante nhận lệnh của ĐGH Giulio II (1503- 1513) phá bỏ Đền Thờ cũ để xây Đền Thờ mới, tức là Đền thờ thánh Phêrô ngày nay. Dân Roma kinh ngạc theo dõi việc phá Đền thờ cũ và họ đặt tên cho Bramante là “Kiến trúc sư phá nhà”. Trong những năm ấy, nhiều dự án nối tiếp nhau, cho đến khi Michelangelo lúc đó đã gần 70 tuổi, bắt đầu xây mái vòm. Sau khi Michelangelo qua đời (1564), 4 kiến trúc sư khác tiếp tục. Mặt tiền do Carlo Maderno làm xong năm 1614. Ngày 18. 11. 1626, Đức Giáo Hoàng Urbano VIII thánh hiến Đền Thờ mới, nhân dịp kỷ niệm 1.300 năm thánh hiến Đền thờ do Hoàng đế Costantino thiết lập. Về sau, kiến trúc sư  Giuseppe Valadier đã thực hiện hai đồng hồ ở mặt tiền đền thờ năm 1822. Dưới đồng hồ bên trái có quả chuông chu vi 7,5 mét, nặng 9,3 tấn.
II. VÀI NÉT ĐẶC TÍNH CỦA ĐỀN THỜ
1. Đền thánh Phêrô vẫn được coi là thánh đường có kích thước lớn nhất của thế giới Kitô giáo. Theo kiến trúc sư Giuseppe Valadier (1812): từ nền tầng hầm đền thờ tới mái vòm cao 136 mét, từ nền đền thờ là 133 mét. Nguyên diện tích đền thờ, không kể nhà mặc áo; có diện tích hơn 2 hecta, tức là 22.076 mét vuông. Mặt tiền đền thờ giống như một sân bóng đá, cao 46 mét và chiều ngang 115 mét. Các cột cao gần 29 mét, đường kính 2,65 mét. Tiền đường từ vòng cung Carlo Muông tới vòng cung Costantino dài 140 mét. Chiều ngang đền thờ là 150 mét; chiều dài đền thờ là 187 mét ( Đền thờ thánh Phaolô của Anh giáo ở Luân Đôn dài 157,20 mét, nhà thờ s Maria del Fiore ở Firenze dài 148,12 mét, nhà thờ chính tòa Milano dài 134,17 mét, nhà thờ chính tòa Cologne dài 132 mét, nhà thờ thánh Petronio ở Bologna dài 131,73 mét, đền thờ thánh Phaolô ngoài thành ở Roma dầi,64 mét. Đền thờ thánh Phêrô có thể chúa được 54 ngàn người nếuu đứng chật hết mọi chỗ kể cả các gian lối đi, nhưng thực tế, trong các đại lễ ĐGH cử hành, thường chỉ có 10 ngàn người ngồi dự lễ.

2. Trong Đền thờ có 46 bàn thờ, bàn thờ cuối cùng được Đức Piô 9 (1846- 1878) thánh hiến ngày 18.1.1856. Có 9 bàn thờ dâng kính đức Mẹ với nhiều tước hiệu khác nhau.
Tầng hầm đền thờ: nền tương ứng với nền nguyên thủy từ thời hoàng đế Costantino. Trong tầng hầm này có nhiều nhà nguyện chung quanh mộ thánh Phêrô, với những bàn thờ để các linh mục cử hành thánh lễ. Mộ của 147 trong số 264 giáo hoàng cũng được đặt tại đây.

3. Cửa Thánh. Trong số 5 cửa vào đền thờ, có một cửa chỉ được mở vào Năm Thánh. Cửa Năm Thánh 2000 đã được ĐGH mở trong đêm vọng Giáng Sinh 24.12.1999. Cửa này được đóng lại vào ngày 6.1.2001.

4. Mái vòm Đền Thờ có chu vi bên trong là 42,7 mét và chu vi bên ngoài là 58 mét, và cao 50,33 mét. Tính từ nền lên tới đỉnh cao nhất của đền thờ với thánh gia 1là 135,2 mét. Thánh giá trên đỉnh cao 4,87 mét và thanh ngang rộng 2,65 mét. Trọng lượng của mái vòm theo các nhà toán học Boscovich, Le-Leur và Lacquer, là 56.208.837,46 kilô. Ngoài hai cầu thang vòng mà các du khách leo lên mái vòm, còn có 9 cầu thang khác, 7 cái lớn và 2 cái nhỏ, mặc dù đi từ bên trong nhà thờ, nhưng đều dẫn tới cùng một đích điểm.
Bàn thờ chính của Đền Thờ, được coi là Bàn Thờ Tuyên Xưng Đức Tin, được xây ngay bên trên mộ thánh Phêrô theo lệnh của ĐGH Clemente VIII (1592- 1605). Bàn thờ có tán che và 4 cột vòng bằng đồng chống đở, do Bernini thực hiện. tượng các thiên thần ở trên mỗi góc cao 3,5 mét. Tán che bàn thờ được khánh thàng ngày 29 tháng 6 năm 1633. Dưới bàn thờ này có một bàn thờ khác của ĐGH Callisto (1119- 1124), và bên dưới đó, có một bàn thờ khác nữa của Đức Greorio Cả (590- 604). Đi xuống sâu hơn, người ta gặp một khối hình vuông, bọc cẩm thạch trắng và đá vân đỏ. Đó là do hoàng đế Costantino thực hiện để kính nhớ thánh Phêrô Tông Đồ và có lẽ được diễn ra trong lễ nghi tưởng niệm chiến thắng của ông tại cầu Milvio ngày 28 tháng 10 năm 312.

5. Tượng thánh Phêrô bằng đồng, có từ thế kỷ 13, được tôn kính trong đền thờ: chân phải của ngài mòn nhiều vì hàng triệu tín hữu hôn kính qua dòng thời gian, kể từ khi Đức Piô IX ban ân xá 50 ngày cho những ai hôn kính chân này sau khi đi xưng tội. theo một truyền thống cổ kính, ngày 29 tháng 6 mỗi năm, lễ thánh Phêrô, ngừơi ta mặc phẩm phục Giáo Hoàng cho tượng thánh Phêrô. Năm 1798- 1799, lễ nghi mặc áo bị chính quyền cộng hòa cấm, tạo nên sự bất mãn lớn nơi dân Roma, vốn rất trung thành với truyền thống, khiến những bộ trưởng tư pháp phải cho mặc áo, ngoại trừ chiếc mũ ba tầng.

6. Tượng Đức Mẹ Sầu Bi (Pietà)- ở bên tay phải, khi mới bước vào đền thờ, bằng cẩm thạch trắng, diễn tả Mẹ Maria đang ẳm xác Chúa Giêsu từ trên Thánh Giá xuống, do Michelangelo thực hiện năm 1500 khi mới 25 tuổi và là tác phẩm duy nhất mang chữ ký của ông. Tên ông được khắc vào vệt áo băng qua ngực Đức Mẹ. Cho đến năm 1792, du khách có thể đến gần ngắm tượng, nhưng một người điên Hungari, quốc tịch Úc, đã leo qua rào dùng búa đập vào tượng nhiều lần trước khi bị cản lại. Mũi Đức Mẹ bị đập vỡ. Người ta thu thập các mảnh vỡ và ghép lại. Hiện nay, người ta đặt kính chắn đạn để bảo vệ kiệt tác nghệ thuật này, nhưng khách viếng thăm cũng khó chiêm ngưỡng pho tượng này hơn so với trước kia.

7. Trong số các mộ phần của các nhân vật trong đền thánh Phêrô, có 3 phụ nữ là nữ bá tước Matilde di Canossa, hoàng hậu Cristina Thụy Điển và Maria Clementina, hoàng hậu Anh Quốc. Hoàng hậu Cristina thoái vị sau khi trở lại đạo Công giáo và được mời tới sống trong triều đình Giáo hoàng và qua đời tại Roma năm 1689. Tượng trình bày cảnh bà chịu phép rửa lần thứ hai tại Innsbruck.
III. MẶT TIỀN ĐỀN THỜ
Mặt tiền đền thờ thánh Phêrô được thực hiện trong vòng 8 năm với 700 công nhân và hoàn thành năm 1614. Để chuẩn bị đón mừng Năm Thánh 2000, Ban Quản Đốc Đền Thờ đã cho tu bổ toàn diện mặt tiền đền thờ lần đầu tiên kể từ khi được hoàn tất, không kể một lần thanh tẩy vào năm 1985 với kinh phí 2 triệu Mỹ kim do hội hiệp sĩ Colombo tài trợ. Lần thanh tẩy đó có nhiều thiếu xót vì dụng cụ không thích hợp. Công trình thanh tẩy tu bổ toàn bộ được hoàn tất cuối tháng 9 năm 1999 sau gần 2 năm rưỡi tiến hành, từ tháng 3 năm 1997.
Trong giai đoạn đầu tiên, mấy chục chuyên viên đã sử dụng các dụng cụ tối tân để trắc nghiệm mặt tiền đền thờ với phương pháp siêu âm, âm hưởng điện từ và các kính hiển vi điện tử, các kỷ thuật này từ lâu vẫn được ENI, công ty dầu hỏa Italia, dùng trong lĩnh vực dầu hỏa. Quang tuyến X được sử dụng để xác định cơ cấu phân tử của mặt tiền đền thờ và những ô nhiễm. Tiếp đến, họ tẩy sạch lớp đá cẩm thạch trắng đã bị hoen ố, bụi bặm và khói xe bám vào với thời gian, bằng dụng cụ như máy xịt cát mịn, các vòi xịt nước, hoặc các máy khoan nhỏ và máy cạo. Việc thanh tẩy và tu bổ toàn diện là điều cần thiết vì không khí tại Roma bị ô nhiễm cao độ. Mặt tiền đền thờ thánh Phêrô được xây bằng lớp đá cẩm thạch có những lỗ li ti rất dễ bị tổn thương vì những lớp sương mù trộn với khói xe cộ ở Roma. Thêm vào đó mưa axít cùng với móc meo ở trong những lỗ nhỏ trên lớp đá tiếp tục ăn mòn các cột, các góc cạnh và 13 pho tượng trên mặt tiền đền thờ. Vì thế, chỉ trong vòng 10 năm sau khi thanh tẩy, mặt tiền đền thờ cũng đã bị hư hại nhiều và cần được chỉnh trang toàn bộ và sâu rộng hơn.
Một lý do khác khiến cho các vị hữu trách quyết định tiến hành việc tu bổ, đó là một cơ hội tốt đẹp nhân dịp Đại Năm Thánh 2000 đến gần, và đặc biệt là có sự tài trợ của ENI, công ty dầu hỏa Italia có chi nhánh tại 80 quốc gia. Công ty này ý thức trách nhiệm của mình vì đã sản xuất và buôn bán dầu hỏa, nên cũng đã góp phần gây nên nạn không khí ô nhiễm làm hư hại mặt tiền đền thờ thánh Phêrô, nên cũng cảm thấy có trách nhiệm phải ghóp phần sửa chữa thiệt hại bằng cách dành một phần tài nguyên kỹ thuật của mình cho công cuộc tu bổ này. Tổng số tài trợ lên đến 9 triệu mỹ kim.

IV. QUẢNG TRƯỜNG THÁNH PHÊRÔ
Quảng trường thánh Phêrô hình bầu dục, một chiều dài 196 mét và chiều rộng 148 mét, với diện tích khoảng 4 hécta và có hàng cột vòng cung bao quanh như vòng tay chào đón tín hữu. Hàng cột này do kiến túc sư Bernini kiến thiết, tổng cộng có 184 cột, mỗi bên 142 cột, đường kính lớn nhất là 1,45 mét. Các cột được xếp thành 4 hàng, với 3 lối đi, lối đi giữa rộng nhất. Hàng cột cao 18 mét 60, bên trên có 140 pho tượng, cao 3 mét 24 do các môn đệ của Bernini thực hiện trong khoảng thời gian 11 năm, từ 1656 đến 1667.
Từ cây bút tháp ở giữa quảng trường tới mặt tiền đền thờ có khoảng cách là 191 mét, trong khi khoảng cách giữa hai tượng thánh Phêrô và Phaolô là 76 mét 73. Trên mặt tiền đền thờ, có các pho tượng cao 5 mét 65. Các tượng này nếu nhìn gần thì thấy rất là thô kệch và sơ sài, nhưng chúng được tạc để nhìn từ xa.
V. THÁP BÚT
Tháp bút ở giữa quảng trường thánh Phêrô là một khối đá hình kim tự tháp bằng đá vân cương đỏ ở Đông Phương, thoạt đầu được Caio Cornelio Gallo, tổng trấn Ai Cập, dựng lên để tôn vinh bản thân. Về sau được Eliopoli đưa về Roma theo ý muốn của hoàng đế Nerone, với mục đích tuyên dương hý trường do ông khởi xướng. Tháp bị đổ và bỏ rơi trong nhiều thế kỷ, cho tới khi được một vài vị hoàng đế để ý tới (Nicolo V (1447- 1455), Phaolo II (1464- 1471), Phaolo III (1534- 1549). Các vị muốn cây tháp này được đặt trước đền thờ thánh Phêrô, nhưng việc khó khăn trong việc di chuyển và dựng tháp khiến nhiều cho nhiều kiến trúc sư nản chí, mãi cho đến đời ĐGH Sisto V (1585- 1590), dự án đó mới thành hình.
Tháp được khởi công di chuyển ngày 30-4-1585 và được dựng tại quảng trường ngày 10-9-1585. Công trình này đòi sự hợp lực của 900 người, với 140 con người và dùng 47 cần trục cùng với 5 đòn bẩy thật mạnh. Quy luật được đặt trong công trình dựng tháp là các công nhân phải tuyệt đối giữ im lặng và chỉ được nhận lệnh từ kiến trúc sư Domenico Fontana mà thôi. Ngoài ra dân chúng hiếu kỳ không được đến gần. Đức Sisto V còn ra lệnh phạt tử hình những người vượt quá ranh giới, và gây tiếng ồn ào.
Theo một lưu truyền từ năm 1770, trong khi tiến hành công việc thì những sợi dây thừng đở tháp bút bắt đầu giãn ra và có nguy cơ bị đứt. Tình trạng thật nguy hiểm. Một trong những người thợ là ông Bresca, vốn là một thủy thủ đã quen với dây chão, ông ta hô lớn: “Hãy đổ nước vào các dây thừng”. Nhận thấy tình trạng nguy ngập, kiến trúc sư Domenico Fontana, vội ra lệnh thi hành ngay lời khuyên đó và tai nạn được tránh thoát.
Sau khi hoàn thành công việc dựng tháp, thủy thủ Bresca ấy đã được thưởng thay vì bị tử hình. Ông được triệu tới trước mặt ĐGH và ngài yêu cầu ông hãy xin một ơn. Ông Bresca đã xin cho mình và dòng dõi mình được đặc ân cung cấp lá dừa cho Tòa Thánh đễ làm lễ nghi Chúa Nhật Lễ Lá. Lời thỉnh cầu được chấp nhận và ngày nay gia tộc Bresca ở miền Liguna vẫn cung cấp lá dừa cho Vatican hàng năm.
Năm 1586, Đức Sisto V cho đặt trên tháp một cây thánh giá lớn bằng sắt, trong có chứa mãnh thánh giá thật của Chúa Giêsu. Ở bệ tháp có khắc hàng chữ: “Đây là thánh giá của Chúa. Các quyền lực đối nghịch hãy tốn chạy. Sư tử của chi tộc Giuda đã chiến thắng”. Ngoài đó còn có câu: “Chúa Kitô chiến thắng. Chúa Kitô hiển trị. Chúa kitô thống trị. Chúa Kitô bảo vệ dân Ngài khỏi mọi nghịch cảnh”.
Tổng cộng từ bệ lên tới đỉnh tháp bút cao 41,23 mét và nặng 312 tấn. Hai bên của tháp có hai bể nước (fontaine) khổng lồ giống nhau, mỗi phút có 38.400 lít nước đổ vào. Vòi nước phun có thể lên cao 14 mét.
VI. MỘ THÁNH PHÊRÔ
Như đã nói trên đây, khu vực xây đền thờ thánh Phêrô trước kia là một nghĩa trang thời La Mã, và được khám phá trong thập niên 1930, được khai quật trong hai đợt: từ 1939 đến 1949, rồi từ 1953 đế 1958. Hai hàng nhà mồ với những hốc mộ được khám phá, với rất nhiều bích họa, tranh khảm, cùng với một khu vực với những ngôi mộ đơn sơ hơn.
Các cuộc khai quật dưới bàn thờ tuyên xưng đức tin đưa tới sự khám phá mà Đức Phaolo VI tuyên bố ngày 26 tháng 6 nmă 1968: “Hài cốt thánh Phêrô được nhận diện đến độ chúng tôi coi là có lý”
Từ đó đến nay, công việc này vẫn được tiếp tục và đồng thời cũng được mở cho các du khách viếng thăm kể từ năm 1975. Nhưng trong những thập niên gần đây, nghĩa trang dưới đền thờ thánh Phêrô đang có lỗ và bị lỡ. Theo các chuyên gia, một vấn đề lớn là sức nóng do hệ thống đèn điện cùng với sức nóng của cơ thể 250 du khách mỗi ngày đến viếng thăm phát sinh ra. Sức nóng đó làm nổi sinh rêu và mốc từ tường của các ngôi mộ, đồng thời tạo nên các lỗ nhỏ, các nấm mốc, muối và dần dần làm hư hỏng các di tích lịch sử này. Thực tế là nhiều bức bích họa vẽ trên tường các ngôi mộ cổ dưới đền thờ thánh Phêrô đã bị phai nhạt, cùng với các dòng chữ viết trên tường. Một số nhà mồ trước kia mở cho du khách thăm viếng, nay bị đóng lại,vì bị hư hỏng. Một phần nghĩa trang ở dưới mức sông Tevere gần đó, nên sự ẩm thấp là một vấn đề liên tục, nhất là khu vực phía đông của nghĩa trang.
Để góp phần tu bổ và cứu vãn mộ thánh Phêrô cũng như các ngôi mộ khác, công ty điện lực của Ý, tên là ENEL, đã tình nguyện tài trợ dự án với phí tổn khoảng 1 triệu 700 ngàn mỹ kim. Trong những năm gần đây, công ty ENEL đã góp phần tài trợ thiết lập các hệ thống đèn điện cho các đền đài công cộng và nhiều nhà thờ tại Italia. Những ngân khoảng đó được rút từ số tiền lời do sự gia tăng tiêu thụ năng lượng điện ở nước này. Dự án tu bổ mộ thánh Phêrô và cải tiến bảo trì nghĩa trang bên dưới đền thờ kéo dài nhiều năm trời, và trong giai đoạn thứ nhất, cho tới tháng 11 năm 1999, có biện pháp giới hạn số người thăm viếng nghĩa trang dưới hầm đền thờ thánh Phêrô. Trong Năm Thánh 2000, việc viếng thăm đang được mở lại theo mức độ cũ, rồi sau đó, lại bị giới hạn. Hãng ENEL dùng những kỹ thuật tân kỳ nhất để thẩm định đầy đủ tất cả những vấn đề của nghĩa trang dưới đền thờ thánh Phêrô, thiết lập thành hồ sơ. Tiếp đến các kỹ sư đề ra phương thức để giảm thiểu tối đa sự thay đổi nhiệt độ trong khu vực này, và đồng thời kiến thiết một hệ thống đèn điện mới, cùng với hệ thống an ninh.
Cho đến nay, số người viếng thăm nghĩa trang bên dưới đền thờ thánh Phêrô tương đối ít hơn, và nhiều du khách không biết là có khu vực này. Để viếng thăm, cần phải giữ chổ trước tại văn phòng khai quật của Vaticano, và có người hướng dẫn từng nhóm đi thăm. Tuy số người viến thăm ít ỏi, nhưng các chuyên viên công ty ENEL cho rằng 250 người mỗi ngày kể là quá nhiều. Họ đề nghị rằng trong tương lai, một hệ thống bằng máy điện toán chuyển tải các ngôi mộ trong nghĩa trang dưới đền thờ thánh Phêrô sẽ được dùng để trình bày cho phần lớn các du khách, thay vì để họ đích thân đi thăm các ngôi mộ như hiện nay. Vào cuối công cuộc tu bổ, kinh nghiệm về các hoạt động này được trình bày trong hai cuốn sách: một cuốn về mộ thánh Phêrô được tu bổ và chiếu sáng, cuốn thứ hai về toàn bộ nghĩa trang Vaticano. Cũng nên nhắc lại rằng, trong ngày kỷ niệm một năm lên ngôi Giáo Hoàng, 16.10.1979, chính Đức Thánh Cha Gioan Phaolo II đã cho mở một cổng rộng 2,3 mét, cao 2,5 mét để các tín hữu có thể bước vào mộ thánh Phêrô dưới hầm đền thờ.
VII. KẾT LUẬN
Tóm lại, kính viếng đền thờ thánh Phêrô là một cuộc gặp gỡ với 2 ngàn năm lịch sử Giáo Hội. Qua bao nhiêu thăng trầm, các Đấng kế vị thánh Phêrô không ngừng nâng đỡ đức tin của các anh chi em mình rải rác khắp nơi trên thế giới, trong các Giáo Hội địa phương.
Thực vậy, chính vì thánh Phêrô đã tới Roma và mộ ngài được lưu giữ tại đây sau khi chịu tử đạo, nên các tín hữu cũng đã tới hành hương nơi đây, và ĐGH người kế vị thánh Phêrô cũng ở gần mộ tiền nhiệm tiên khởi của ngài. Cả hai sự kiện có cùng một nguồn gốc. Ngoài ra, nơi xây đền thờ không phải được lựu chọn cách tùy ý, nhưng chủ ý được xây trên mộ của thánh nhân, và điểm hội tụ của thánh đường này chính là nơi được gọi là “Bàn thờ Tuyên Xưng Đức Tin”, ngay trên mộ của thánh Phêrô.
Ngày 4 tháng 7 năm 1979, khi mừng lễ thánh Phêrô và Phaolô lần đầu tiên ở Roma, ĐTC Gioan Phaolo 2 nói rằng: “tại đây, trung tâm của chính Giáo Hội, mầu nhiệm của ơn gọi đặc biệt này đã dẫn thánh Phêrô từ hồ Genezareth đến Roma, và cũng dẫn theo Phaolô thành Tarsa, theo vết chân của thánh Phêrô, mầu nhiệm mạnh mẽ nói với chúng ta về thực tại lịch sử của ngài. Tất cả chúng ta đang sống trong cơn lốc của nền văn minh hiện đại, trong sự lo âu của đời sống tân tiến, chúng ta phải dừng lại đâu và suy niệm về thể thức phát sinh Giáo Hội này, một Giáo Hội, theo ý Chúa, đã trở thành trung tâm và “thủ đô” với sứ mệnh cao cả: Giáo Hội mà tất cả Giáo Hội khác đều đến đây hành hương, tìm thấy nền tảng sự hiệp nhất của mình… Sự kế nhiệm trên ngai tòa giám mục này có một ý nghĩa, không những đối với Giáo Hội địa phương ở Roma này, nhưng cho cả Giáo Hội hoàn vũ nữa. Tất cả đều có một ý nghĩa rõ ràng, thực vậy, chính Chúa Kitô đã ban cho thánh Phêrô quyền cởi mở và đóng lại.
Quý vị có thể thấy rõ hơn qua video sau đây: